DMCA.com Protection Status
Địa chỉ: 702/10 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
|

Điện thoại:

Dịch vụ pháp lý
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Theo quy định tại Điều 75 của BLDS năm 2015 thì: “Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.

Các loại hình pháp nhân thương mại bao gồm; doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác

Các loại tội mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự: Theo quy định của BLHS thì không phải pháp nhân nào cũng phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ có “pháp nhân thương mại” mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Các pháp nhân phi thương mại (quy định tại điều 76 BLDS 2015) không phải là đối tượng chịu trách nhiệm hình sự bao gồm: cơ quan Nhà nước; đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị; tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức xã hội - nghề nghiệp; quỹ xã hội, quỹ từ thiện; doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.

BLHS cũng quy định: Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể: Luật quy định 33 tội phạm thuộc 3 nhóm sau đây:

Nhóm thứ nhất: các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Điều 188 (Tội buôn lậu); Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (Tội đầu cơ); Điều 200 (Tội trốn thuế); Điều 203 (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (Tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (Tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã);

Nhóm thứ hai: các tội phạm về môi trường: Điều 235 (Tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (Tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (Tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại);

Nhóm thứ ba: tội phạm xâm phạm trật tự công cộng: Điều 300 (Tội tài trợ cho khủng bố); Điều 324 (Tội rửa tiền).

Các điều kiện để pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự: pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ 4 điều kiện:

- Hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân thương mại;

- Hành vi phạm tội vì lợi ích pháp nhân thương mại;

- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của pháp nhân thương mại;

- Còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại được thực hiện thông qua hành vi của cá nhân.

    Pháp nhân là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật; mọi hoạt động của tổ chức được thực hiện bởi hành vi cụ thể của các cá nhân đại diện cho tổ chức đó vì vậy có thể chỉ nhận biết các hành vi cụ thể của pháp nhân thương mại chính là hành vi của các cá nhân đại diện cho pháp nhân thương mại đó. Theo quy định tại khoản 2 Điều 75 BLHS thì việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm cá nhân. Quy định của điều luật cho thấy trong vụ án hình sự mà pháp nhân thương mại bị truy cứu thì bản thân các cá nhân đại diện cho pháp nhân đó không thể chối bỏ trách nhiệm hình sự.

Tin liên quan
    Copyright © 2026 CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẶNG GIA Web Design by Nina.vn
    Zalo

    CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẶNG GIA

    CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẶNG GIA

    CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẶNG GIA