DMCA.com Protection Status
Địa chỉ: 702/10 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
|

Điện thoại:

Dịch vụ pháp lý
Hỏi đáp tố tụng hành chính

Hỏi đáp tố tụng hành chính

Hỏi: Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đổi; quyền sử dụng đất đã được chuyển nhượng, thừa kế….và cơ quan có thẩm quyền đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới nhưng vẫn còn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ, thì khi khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Toà án huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người khởi kiện phải yêu cầu huỷ tất cả các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chỉ yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới? Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính?

Đáp: Các trường hợp nêu trên thuộc trường hợp Nhà nước phải thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp theo điểm b và điểm c khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013.

    Khoản 3 Điều 87 Nghị định 43/2014NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai hướng dẫn như sau: “ Trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận… hoặc đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người sử dụng đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp trước đây cùng với hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận, hồ sơ đăng ký biến động. Văn phòng đăng ký đất đai quản lý Giấy chứng nhận đã nộp sau khi kết thúc thủ tục cấp đổi, thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất”.

     Khoản 7 Điều 87 Nghị định 43/2014NĐ-CP quy định: “Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định taị các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều này mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận thì Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất huỷ Giấy chứng nhận đã cấp; chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; lập danh sách Giấy chứng nhận đã bị huỷ gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử”.

    Từ các quy định trên cho thấy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ mặc dù chưa thu hồi được nhưng không còn giá trị pháp lý vì đã bị cơ quan có thẩm quyền huỷ và đưa vào danh sách Giấy chứng nhận đã bị huỷ, được thông báo công khai. Khi khởi kiện vụ án hành chính, người khởi kiện chỉ cần yêu cầu Toà án huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới

Hỏi: Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính hay vụ án lao động?

Đáp:

1. Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính là “quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống” (khoản 2 Điều 30 Luật TTHC năm 2015).

2. Vụ án lao động không giải quyết khiếu kiện Quyết định kỷ luật buộc thôi việc, mà giải quyết tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải (điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật TTDS năm 2015).

Hỏi: Người không phải là đối tượng chiu sự tác động trực tiếp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, nhưng có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính thì họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính không?

Đáp: Các khoản 2 và 4 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 quy định: “Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”; “Hành vi hành chính bị kiện là hành vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”.

          Khoản 8 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 quy định: “Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính…”. Khoản 1 Điều 115 Luật TTHC năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính…trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó”.

          Điều 12 Nghị quyết 02/2011 (hướng dẫn thi hành Luật TTHC 2010 nhưng nội dung quy định về quyền khởi kiện vụ án tại Điều 115 Luật TTHC năm 2015 không có sự thay đổi nhiều so với quy định tại Điều 103 Luật TTHC năm 2010 nên Toà án vẫn vận dụng để giải quyết), theo đó hướng dẫn cụ thể về thời hiệu khởi kiện vụ án đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính và không được nhận quyết định hành chính hoặc không được chứng kiến/không bị thông báo về hành vi hành chính nhưng bị xâm hại trực tiếp quyền lợi ích hợp pháp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính đó (tại các điểm b,c khoản 1), trong đó có nêu một số ví dụ cụ thể như sau:

Ví dụ….sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N đã tiến hành xây tường bao diện tích đất 150m2 đó. Ông Q hàng xóm của ông N cho rằng, ông N đã xây tường bao lên cả phần diện tích đất của ông Q. Ngày 28/7/2011, ông N đư cho ông Q xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N và ông Q thấy rằng một phần diện tích đất mà ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phần diện tích đất của ông Q. Trong trường hợp này, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của ông Q đối với Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 10-2-2011 của Uỷ ban nhân dân quận B là kể từ ngày ông Q biết được Quyết định đó (28/7/2011).

Ví dụ:,,,,ông T có căn nhà ở cạnh nhà của ông H đã bị cưỡng chế tháo dỡ và trong thời gian cưỡng chế, tháo dỡ nhà của ông H thì ông T đi công tác nước ngoài. Ngày 15-7-2011, ông T mới đi công tác về và thấy tường nhà mình bị rạn nứt và được hàng xóm kể lại nhà ông H đã bị cưỡng chế, tháo dỡ. Nếu ông khởi kiện hành vi hành chính tháo dỡ nhà ở xây dựng trái phép đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông, thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện của ông T đối với hành vi hành chính tháo dỡ nhà ở xây dựng trái phép đó là kể từ ngày ông T được kể lại về việc thực hiện hành vi cưỡng chế tháo dỡ nhà ở của ông H (15-7-2019).

    Từ các quy định trên cho thấy, người không phải là đối tượng của quyết định hành chính, hành vi hành chính nhưng có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính thì họ cũng có quyền khởi kiện vụ án hành chính.

Hỏi: Điều 20 Luật TTHC năm 2015 quy định: “Toà án…tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án”, Nên hiểu quy định này như thế nào?

Đáp: Điều 20 Luật TTHC năm 2015 quy định về nguyên tắc đối thoại trong tố tụng hành chính, trong đó xác định trách nhiệm của Toà án không chỉ tổ chức, tiến hành đối thoại mà còn phải “tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này”. Trách nhiệm này của Toà án có thể  được hiểu như sau:

- Việc tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau được thực hiện trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

- Trong việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại. Toà án cần xác định thời gian, địa điểm, vị trí ngồi, cách thức, phương pháp…phù hợp, bảo đảm các bên có điều kiện thuận lợi nhất để tham gia phiên đối thoại (Tham khảo Chỉ thị số 04/2017/CT-CA ngày 03-10-2017 của Chánh án TANDTC về việc tăng cường công tác hoà giải tại TAND).

- Tại phiên toà mà các bên có nguyện vọng được đối thoại với nhau giải quyết vụ án thì Toà án có thể tạo điều kiện về thời gian, địa điểm; ưu tiên cho các đương sự tự đối thoại bằng việc tạm ngừng phiên toà trong thời hạn tối đa 30 ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng, hết thời hạn mà việc đối thoại chưa kết thúc thì có thể quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án (điểm đ khoản 1, 2 Điều 187, Điều 238 Luật TTHC năm 2015); người tiến hành tố tụng có thể tham gia, hỗ trợ các bên trong cuộc đối thoại nếu họ có yêu cầu.

    Tuy nhiên, việc “tạo điều kiện thuận lợi” phải trong khuôn khổ quy định của Luật TTHC về nguyên tắc đối thoại, về thời hạn và thủ tục tục giải quyết vụ án, thẩm quyền, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và các đương sự tiến hành đối thoại.

Hỏi: Vụ án hành chính được thụ lý trước ngày 01/7/2016, nhưng sau ngày 01/7/2016 mới đưa vụ án ra xét xử, nếu người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện (là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức) không phải là cấp phó thì có phải thực hiện lại việc uỷ quyền không? Toà án có phải tiến hành đối thoại lại không?

Đáp:

1. Các khoản 1 và 2 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật TTHC năm 2015 quy định: “Kể từ ngày Luật TTHC có hiệu lực thi hành (01/7/2016); Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án thụ lý trước ngày 01/7/2016, nhưng kể từ ngày 01/7/2016 mới xét xử theo thủ tục sơ thẩm, những vụ án hành chính đã được Toà án xét xử theo thủ tục sơ thẩm trước 01/7/2016 mà có kháng cáo, kháng nghị, nhưng kể từ ngày 01/7/2016 mới xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết.

    Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật TTDS năm 2015 và Nghị quyết số 104/2015 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật TTHC năm 2015 quy định: “Kể từ ngày Luật TTHC có hiệu lực thi hành (01/7/2016), Toà án áp dụng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án hành chính, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 371 Luật TTHC thì được áp dụng từ ngày 01/01/2017”.

    Tham khảo Công văn số 18/UBTVQH14-TP ngày 31/8/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện Điều 60 Luật TTHC có kết luận như sau: “Như vậy, kể từ ngày 01/7/2016 là ngày Luật TTHC có hiệu lực, thì việc cử người trong tố tụng hành chính trước Toà án nhân dân phải theo đúng quy định tại Điều 60 của Lut này”.

     Từ các quy định trên cho thấy, vụ án hành chính được thụ lý trước ngày 01/07/2016, nhưng sau ngày 01/07/2016 mới có quyết định đưa vụ án ra xét xử (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) hoặc mới mở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm thì phải áp dụng quy định về người đại diện theo uỷ quyền tại khoản 3 Điều 60 Luật TTHC năm 2015. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải chấm dứt uỷ quyền trong tố tụng hành chính với người được uỷ quyền trước đó và có văn bản uỷ quyền cho cấp phó của mình đại diện.

(Có thể tham khảo thêm nội dung tiểu mục 8 Mục I Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của TANDTC giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự)

2. Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thực hiện lại việc uỷ quyền để uỷ quyền cho cấp phó của mình theo khoản 3 Điều 60 Luật TTHC năm 2015 thì pháp luật không bắt buộc Toà án phải thực hiện lại thủ tục đối thoại. Các hành vi tố tụng do người đại diện trước đó thực hiện phù hợp với phạm vi đại diện và đúng quy định của pháp luật vẫn phát sinh hiệu lực với người được đại diện và có giá trị tiếp tục giải quyết vụ án hành chính.

Tin liên quan
    Copyright © 2026 CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẶNG GIA Web Design by Nina.vn
    Zalo

    CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẶNG GIA

    CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẶNG GIA

    CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẶNG GIA